Cổng thông tin điện tử huyện An Biên

Nghiên cứu

Xem với cỡ chữAA

Cơ cấu lại ngành du lịch Kiên Giang đáp ứng yêu cầu phát triển thành ngành kinh tế mũi nhọn

(07:37 | 29/11/2018)

 

Bài 1: Cơ cấu ngành du lịch - thực trạng và nguồn lực phát triển

Để Du lịch Kiên Giang phát triển thành ngành kinh tế mũi nhọn cần đánh giá thực trạng cơ cấu ngành với những nội dung sau: (1) Tỷ trọng du lịch trong cơ cấu kinh tế và nguồn thu du lịch; (2) cơ cấu thị trường và nguồn lực khai thác; (3) Cơ cấu sản phẩm, chuỗi giá trị ngành du lịch; (4) quản lý về du lịch; (5) cơ cấu doanh nghiệp du lịch; và (6) cơ cấu nguồn nhân lực du lịch và nguồn lực phát triển. 

 

Thống kê cho thấy, trong giai đoạn 2013-2017, toàn tỉnh đã đón khoảng 23,4 triệu lượt khách (Tăng trưởng bình quân hằng năm đạt 11,3%), trong đó có 1,2 triệu lượt khách quốc tế (Tăng trưởng bình quân hằng năm đạt 17,8%). Hoạt động du lịch đã thúc đẩy tiêu thụ tại chỗ các sản phẩm nông-lâm-thủy sản và kích thích thúc đẩy các ngành nghề khác cùng phát triển; giải quyết việc làm cho hơn 10.000 lao động, góp phần tăng thu nhập cho người dân và tăng thu ngân sách; vị trí, vai trò của ngành du lịch ngày càng được khẳng định, tỷ trọng ngành du lịch trong cơ cấu kinh tế của tỉnh ngày càng cao.

 

Hiện nay, sản phẩm du lịch Kiên Giang cơ bản đang được xây dựng và phát triển theo định hướng của Chiến lược phát triển sản phẩm tỉnh Kiên Giang đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030. Cụ thể, sản phẩm du lịch phát triển dựa trên 04 loại hình sản phẩm chủ đạo: du lịch biển, đảo; du lịch văn hóa; du lịch gắn với thiên nhiên/sinh thái. Dựa trên điều kiện tài nguyên du lịch, các dòng sản phẩm trên được phát triển tại 04 vùng du lịch trọng điểm của tỉnh, đó là: (i) vùng Phú Quốc; (ii) vùng Hà Tiên - Kiên Lương và phụ cận; (iii) vùng Rạch Giá - Kiên Hải và phụ cận; và (iv) vùng U Minh Thượng và phụ cận. Dòng sản phẩm du lịch biển đảo với hướng ưu tiên cao nhất và có sự đầu tư mạnh của Trung ương và tỉnh trong thời gian gần đây nên định hình nhanh hơn. Bên cạnh các sản phẩm chủ đạo, một số địa phương và doanh nghiệp đã phát triển nhiều sản phẩm phục vụ thị trường như du lịch tâm linh, du lịch MICE (Du lịch hội nghị, hội thảo, khuyến thưởng, triển lãm), du lịch thăm thân hoặc du lịch kết hợp chữa bệnh, du lịch cộng đồng hoặc du lịch mạo hiểm. Đặc biệt, du lịch Phú Quốc, việc đầu tư phát triển sản phẩm, phát triển hạ tầng, cơ sở vật chất kỹ thuật theo định hướng tập trung, đồng bộ đã góp phần hình thành rõ nét nhất là vùng động lực, trọng điểm phát triển du lịch Kiên Giang.

 

Chuỗi giá trị du lịch phải có sự kết nối giữa du lịch với các ngành kinh tế. Chuỗi giá trị gồm các hoạt động cần thiết để đưa sản phẩm từ khi bắt đầu hình thành tới khách du lịch. Chuỗi giá trị du lịch thể hiện quá trình các doanh nghiệp tư nhân hợp tác với chính phủ để tiếp cận các nguồn lực, đầu tư vào nguồn lực hoặc đưa thêm giá trị vào nguồn lực đó cho hình thành sản phẩm và bán sản phẩm cho khách du lịch. Điều kiện tiên quyết hình thành chuỗi giá trị du lịch có giá trị cao là mức độ sẵn sàng phục vụ và chất lượng của cơ sở hạ tầng xã hội, cơ sở hạ tầng gắn liền với hoạt động du lịch. Cơ sở hạ tầng tại Kiên Giang như đường không, đường biển, đường sông, đường bộ, hệ thống bến bãi, cảng biển, sân bay hiện nay đều có, nhưng chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển để tham gia tích cực vào chuỗi giá trị. Các trục giao thông đường bộ chính đã được cải thiện nhưng các trục nhánh tiếp cận các điểm du lịch (nhất là các khu du lịch vùng sâu, vùng xa, hải đảo) còn nhiều khó khăn. Các điểm dừng chân, trạm nghỉ dọc các tuyến đường, bãi đỗ xe, điểm trung chuyển đưa đón khách du lịch còn thiếu gây hạn chế sự phát triển của ngành du lịch.

 

Di tích lịch sử Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân Phan Thị Ràng

(Chị Sứ - Hòn Đất - Kiên Giang)

Về quản lý du lịch:

Ủy ban nhân dân tỉnh Kiên Giang là cơ quan quản lý Nhà nước ở địa phương, Sở Du lịch là cơ quan quản lý chuyên ngành về du lịch. Các ngành liên quan quản lý các lĩnh vực như thương mại, giao thông, xây dựng, vệ sinh môi trường, an toàn thực phẩm…

 

So với mô hình quản lý, hỗ trợ phát triển ngành du lịch phổ biến ở Việt Nam, mô hình tổ chức quản lý ngành du lịch Kiên Giang hiện nay còn bất cập. Cơ quan quản lý Nhà nước về du lịch của tỉnh không có đơn vị trực thuộc thực hiện chức năng xúc tiến quảng bá, hỗ trợ phát triển du lịch, hỗ trợ du khách khi đến Kiên Giang. Trong khi cơ quan thực hiện chức năng xúc tiến ở địa phương bao gồm cả 3 lĩnh vực: Đầu tư, thương mại và du lịch, chưa thống nhất về mô hình, về nhiệm vụ, quyền hạn, về cơ chế hợp tác với cơ quan thực hiện chức năng quản lý Nhà nước về du lịch. Thực tế thời gian qua cho thấy hiệu quả xúc tiến quảng bá, hỗ trợ phát triển du lịch, hỗ trợ du khách chưa cao, chưa hiệu quả, thiếu tính chuyên nghiệp.

 

Hiện nay, Hiệp hội về du lịch của tỉnh chưa được thành lập. Mặc dù có nhiều nỗ lực trong việc vận động thành lập Hiệp hội theo đúng quy định của pháp luật về Hội. Xác định tầm quan trọng của việc thành lập Hiệp hội Du lịch, tỉnh Kiên Giang sẽ sớm hình thành Hiệp hội trong đầu năm 2019.

 

Về cơ cấu doanh nghiệp du lịch: Tính đến tháng 10/2018 toàn tỉnh có 97 doanh nghiệp được cấp phép kinh doanh dịch vụ lữ hành theo Luật Du lịch 2005 - trong đó có 11 doanh nghiệp kinh doanh lữ hành quốc tế (hiện nay theo Luật Du lịch 2017, mới chỉ có 2 doanh nghiệp lữ hành Nội địa được cấp phép). Hệ thống cơ sở lưu trú du lịch tại Kiên Giang chuyển biến mạnh về số lượng và chất lượng. Về mặt số lượng, toàn tỉnh có 710 cơ sở lưu trú du lịch với 19.764 phòng Cơ sở lưu trú du lịch được xếp hạng  từ 1 đến 5 sao như sau: 08 khách sạn 5 sao với 4.979 phòng, 08 khách sạn 4 sao với 996 phòng, 08 khách sạn 3 sao với 503 phòng. Về thương hiệu của hệ thống khách sạn, trong những năm gần đây, các tập đoàn lớn như Sun Group, VinGroup, BIM Group, CEO, Mường Thanh… tiếp tục khẳng định vị thế của mình trong việc cung cấp các tổ hợp vui chơi, giải trí, cơ sở lưu trú có quy mô lớn, đẳng cấp quốc tế, góp phần hình thành thương hiệu sản phẩm, dịch vụ du lịch Kiên Giang. Ngành du lịch đã thu hút mạnh mẽ các nguồn lực đầu tư của xã hội để phát triển hệ thống sản phẩm, dịch vụ, cơ sở vật chất kỹ thuật, đặc biệt là các nhà đầu tư chiến lược vào Phú Quốc với các dự án quy mô lớn, tạo ra động lực, là đòn bẩy cho sự phát triển du lịch của tỉnh nhà.

 

 Cảng quốc tế An Thới, Phú Quốc

 

Về cơ cấu nguồn nhân lực du lịch và nguồn lực phát triển:

Công tác đào tạo nghiệp vụ cho lao động du lịch được các cấp quản lý và doanh nghiệp trong tỉnh quan tâm; đã tổ chức được nhiều khoá đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ về du lịch theo hình thức xã hội hóa, từ nguồn tài trợ của các dự án, ngân sách địa phương về đào tạo nghề cho lao động,... qua đó góp phần nâng cao chất lượng lao động trong ngành du lịch của tỉnh.

 

Các Trường cao đẳng và trung cấp đã và đang triển khai 26 lớp đào tạo cho 1.266 người (gồm cả các lớp chuyển tiếp) đào tạo chuyên môn về du lịch. Đến tháng 10/2018, lao động du lịch toàn tỉnh trên 15 ngàn người. Lực lượng lao động ngành du lịch tăng bình quân giai đoạn 2016 - 2018 là trên 9,9%; tỷ lệ lao động qua đào tạo chuyên ngành về du lịch đạt khoảng 60%; trong số lao động qua đào tạo có 82,1% trình độ trung cấp, sơ cấp nghề và chứng chỉ bồi dưỡng ngắn hạn.

 

Đánh giá về cơ cấu ngành

 

Cơ cấu sản phẩm theo loại hình và theo từng vùng du lịch là khá hợp lý. Sản phẩm du lịch phát triển theo định hướng của Chiến lược phát triển sản phẩm du lịch của tỉnh, hình thành dần theo cơ cấu các dòng sản phẩm du lịch biển đảo, du lịch văn hóa, du lịch sinh thái. Trong đó, du lịch biển đảo đang được đầu tư phát triển mạnh nhất và định hình rõ hơn cả. Các sản phẩm du lịch khác cũng định hình dần và có khả năng đáp ứng cho thị trường.

 

Cơ cấu theo cấu thành sản phẩm hoặc tiếp cận theo chuỗi giá trị thì còn khập khiễng. Đầu vào hình thành sản phẩm còn rất hạn chế: hạ tầng giao thông chưa đáp ứng nhu cầu phát triển. Các sản phẩm thương mại, nông nghiệp… chưa định hướng phát triển thành sản phẩm đầu vào hình thành sản phẩm du lịch.

 

Về thị trường: Thị trường khách quốc tế, cơ cấu chính vẫn là thị trường Đông Bắc Á với tỷ trọng khách du lịch Trung Quốc là chủ đạo, khách Mỹ ngày càng lùi xa trong TOP 10, khách Nga có chiều hướng gia tăng. Thị trường khách nội địa ngày một phát triển mạnh, gấp 10 lần khách quốc tế đến Kiên Giang, khách từ các đô thị lớn chi tiêu cao.

 

Về cơ cấu và nguồn lực cơ sở vật chất kỹ thuật thì hiện nay 2/3 số lượng cơ sở đã xếp hạng và có chất lượng cao hơn. Khách sạn 3-5 sao số lượng ít nhưng chiếm gần 30% tổng số phòng. Xu hướng đầu tư, hình thành các khách sạn cao cấp và tổ hợp khách sạn kết hợp thương mại và giải trí, mua sắm tăng nhanh và có hướng phát triển mạnh.

 

Cơ cấu lao động chủ yếu là sơ cấp (gần ½ sơ cấp), trung cấp và cao đẳng gần ½. Đại học và sau đại học chỉ chiếm 7,4%. Trình độ ngoại ngữ, kỹ năng giao tiếp, ứng xử và tin học còn hạn chế. Yêu cầu phát triển theo hướng chuyên nghiệp, có năng lực cạnh tranh thì cơ cấu này chưa thực sự đáp ứng được.

 

Trên cơ sở đánh giá thực trạng và nguồn lực phát triển, tác giả sẽ đề xuất nội dung và giải pháp cơ cấu lại ngành du lịch trong bài 2.

 

Nội dung và hình ảnh: Xuân Quang